Hiện nay, bệnh thận mạn tính đang ngày càng phổ biến, đòi hỏi người bệnh phải tuân thủ nghiêm ngặt các phác đồ điều trị để làm chậm quá trình suy giảm chức năng thận. Dinh dưỡng hợp lý đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý bệnh, giúp giảm gánh nặng lên thận và có thể làm chậm tiến triển đến giai đoạn cuối.
BS.CKII Lê Quốc Việt, Phó trưởng khoa Nội thận - Tiết niệu - Lọc máu, Bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ báo cáo tại Hội nghị khoa học mở rộng năm 2026: Có khoảng 30 – 50% bệnh nhân bệnh thận mạn có dấu hiệu suy dinh dưỡng hao hụt protein - năng lượng. Bệnh nhân bệnh thận mạn dễ bị suy mòn do chế độ ăn kiêng và chuyển hóa bất thường. Do đó, người bệnh cần cân bằng giữa hạn chế chế độ ăn và duy trì tình trạng dinh dưỡng.

Liệu pháp dinh dưỡng cho bệnh nhân thận mạn nhằm tối ưu hóa tình trạng dinh dưỡng, duy trì cân nặng hợp lý và tránh nguy cơ suy dinh dưỡng. Chế độ ăn khoa học có thể giúp làm chậm tốc độ giảm mức lọc cầu thận và trì hoãn thời điểm phải lọc máu. Việc điều chỉnh chế độ ăn còn giúp giảm các triệu chứng chán ăn, buồn nôn do urê huyết cao, đồng thời kiểm soát huyết áp, phòng ngừa toan chuyển hóa và rối loạn khoáng chất (như phospho, canxi). Khuyến cáo dinh dưỡng phải được cá thể hóa theo từng bệnh nhân dựa trên giai đoạn bệnh thận mạn, các bệnh lý đi kèm và nguy cơ biến chứng.
BS.CKII Lê Quốc Việt cũng nhấn mạnh, tiêu thụ nhiều protein sẽ làm tăng lọc cầu thận và tăng áp lực nội cầu thận, dẫn đến tăng albumin niệu và thúc đẩy suy thận tiến triển nhanh hơn. Hạn chế đạm trong chế độ ăn giúp giảm sản sinh urê và các độc chất chuyển hóa từ protein, làm giảm triệu chứng của hội chứng urê huyết và có thể trì hoãn việc lọc máu. Người khỏe mạnh cần khoảng 0,8 g đạm/kg thể trọng, nhưng bệnh nhân thận mạn được khuyến cáo mức tiêu thụ thấp hơn để bảo vệ thận mà vẫn tránh được suy dinh dưỡng. Cần tránh chế độ ăn giàu protein vượt quá 1,3 g/kg/ngày đối với người có nguy cơ tiến triển bệnh. Ở người lớn có nguy cơ suy thận giai đoạn cuối, nếu có khả năng tuân thủ và được giám sát chặt chẽ, có thể xem xét chế độ ăn rất ít đạm (0,3 - 0,4 g/kg/ngày) kết hợp bổ sung acid amin thiết yếu.
Đi kèm với việc hạn chế đạm, người bệnh phải đảm bảo cung cấp trên 30 kcal/kg/ngày để cơ thể có thể duy trì cân bằng nitơ ngay cả khi lượng protein chỉ ở mức 0,55 - 0,60 g/kg. Ngược lại, nếu năng lượng thấp, bệnh nhân dễ mất khối cơ và suy dinh dưỡng dù ăn đạm không quá thấp.

Bên cạnh đó, hạn chế muối giúp kiểm soát hiệu quả huyết áp và tình trạng phù ở bệnh nhân bệnh thận mạn. Hướng dẫn thực hành lâm sàng KDIGO 2024 về đánh giá và quản lý bệnh thận mạn, khuyến cáo về chỉ định lượng natri tiêu thụ dưới 2g mỗi ngày, tương đương với việc dùng ít hơn 5g muối ăn (NaCl) mỗi ngày. Trong bửa ăn hàng ngày, người bệnh cần tránh nêm nhiều muối, hạn chế các loại nước chấm mặn, đồ ủ chua và đọc kỹ nhãn thực phẩm để chọn loại chứa dưới 140 mg natri mỗi khẩu phần. Mục tiêu là kết hợp thuốc và chế độ ăn để giữ huyết áp dưới 130/80 mmHg.
Đối với kali, duy trì nồng độ trong máu ở mức 4,0 - 4,5 mmol/L giúp giảm thiểu nguy cơ tử vong. Khi bệnh nhân thận mạn giai đoạn 3-5 có tình trạng tăng kali máu, cần hạn chế các thực phẩm giàu kali như: trái cây sấy, chuối, cam, dừa, khoai tây và bí. Người bệnh nên tránh dùng muối chứa kali. Việc chế biến thực phẩm, cần ưu tiên chế biến bằng cách ngâm và luộc bỏ nước có thể giúp giảm lượng kali trong thực phẩm.
Về kiểm soát dịch cơ thể, người bệnh không nên hạn chế nước quá nghiêm ngặt nếu vẫn còn đi tiểu khá. Tuy nhiên, bệnh nhân cần cân bằng dịch cơ thể bằng cách kiểm soát lượng nước tiểu và dịch vào cơ thể, tùy vào tình trạng phù và cân nặng để tránh tình trạng quá tải dịch cũng như mất nước làm suy thận nặng thêm. Phốt pho và canxi cũng cần được giám sát nghiêm ngặt. Bệnh nhân cần hạn chế sữa, phô mai, thịt đỏ, phủ tạng, đậu hạt, bia, nước ngọt có gas.
Các chuyên gia hiện nay ghi nhận lợi ích từ xu hướng chế độ ăn ưu tiên thực vật, duy trì lượng đạm thấp nhưng chuyển từ 50% đến dưới 75% nguồn đạm sang thực vật. Chế độ này giúp giảm độc chất urê huyết, giảm toan chuyển hóa, hạn chế béo phì và cải thiện các nguy cơ tim mạch - chuyển hóa.
BS.CKII Lê Quốc Việt cho biết, liệu pháp sử dụng Ketoanalog (KAs) kết hợp với chế độ ăn rất ít đạm đang chứng minh hiệu quả bảo vệ thận mạnh mẽ cho bệnh nhân. KAs là các acid amin thiết yếu dưới dạng keto không chứa nitơ, vào cơ thể sẽ nhận nhóm amin từ các nguồn nitơ dư thừa để tổng hợp thành acid amin thiết yếu, giúp ngừa thiếu hụt dinh dưỡng và cân bằng nitơ dương. Việc dùng KAs giúp làm giảm nguy cơ suy giảm mức lọc cầu thận và giảm nguy cơ khởi đầu lọc máu.
Một nghiên cứu trên 15.782 bệnh nhân thận mạn giai đoạn tiền lọc máu cho thấy, nhóm dùng Ketoanalog có tỷ lệ tử vong trong 5 năm thấp hơn đáng kể (34,7%) so với nhóm không dùng (42,7%), tương đương mức giảm nguy cơ tử vong khoảng 27%. Đặc biệt, ở bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên, mức giảm nguy cơ tử vong khi dùng Ketoanalog càng thể hiện rõ rệt hơn. Bổ sung Ketoanalog giúp người bệnh triển khai thành công chế độ ăn đạm rất thấp nhằm kéo dài thời gian đến khi phải lọc máu và cải thiện chất lượng sống.
Chế độ dinh dưỡng chính là nền tảng không thể thiếu trong chăm sóc bệnh nhân bệnh thận mạn song song với việc sử dụng thuốc. Người bệnh cần phối hợp chặt chẽ với bác sĩ để thiết lập một khẩu phần ăn cá thể hóa, qua đó bảo tồn tối đa chức năng thận và nâng cao sức khỏe toàn diện.
Bài, ảnh: Quỳnh Chi
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn